Để chè của Việt Nam có chỗ đứng trên thị trường thế giới, ngành chè cần phải xây dựng được một thương hiệu chung.
Lép vế trên thị trường xuất khẩu
Việt Nam đang là nước có sản lượng chè XK đứng thứ 5 trên thế giới, chỉ sau Kenya, Trung Quốc, Sri Lanka, Ấn Độ. Tổng giá trị XK hàng năm đạt xấp xỉ 230 triệu USD.
Tuy nhiên, đến 90 - 95% chè Việt Nam đang XK dưới dạng thô, sản phẩm sơ chế. Hiện tại chè Việt thường phải mang tên của các hãng chè lớn của nước ngoài hoặc bị lẫn lộn khi XK.
Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là do nhiều thị trường vẫn còn áp dụng mức thuế suất cao đối với chè nhập khẩu (NK), đặc biệt là mặt hàng thương phẩm (đóng gói dưới 3 kg).
Trong khi chè Việt vẫn chưa xây dựng được thương hiệu riêng, cộng với thuế cao và giá thành tăng đã trở thành rào cản làm sản phẩm càng khó cạnh tranh.
Theo ông Hoàng Vĩnh Long - Chánh văn phòng Hiệp hội chè Việt Nam (Vitas), theo lộ trình các FTA đã ký, mức thuế suất NK chè vào các nước sẽ dần giảm xuống bằng 0%, bao gồm cả các sản phẩm chè đóng gói dưới 3kg.
Khi đó, các sản phẩm chè đóng gói nhỏ, mang thương hiệu Việt sẽ dễ dàng phân phối tới tận tay người tiêu dùng qua các kênh tiêu thụ: Siêu thị, nhà hàng…
“Hiện chè Việt Nam đang XK sang khoảng 120 nước, trong đó có các thị trường chính như: Đài Loan, Pakistan, Afghanistan, Trung Quốc, Nga, Mỹ…
Song mỗi nước lại có một số yêu cầu ngặt nghèo về chất lượng, về nồng độ hóa chất, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. Đơn cử vào tháng 4/2015, 3 container chè XK của một Link Vào Trang Chủ MM88.COM Chính Thức (DN) Việt xuất đi Đài Loan đã bị trả lại do dư lượng 2 hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là Acetamiprid và Imidacloprid vượt quá mức cho phép.
Ngoài 2 hoạt chất BVTV này, hiện còn có thêm 4 hoạt chất khác cũng đang bị các nước NK chè, đặc biệt là EU và Đài Loan nghiêm cấm sử dụng, nhưng vẫn chưa được các cơ quan chức năng Việt Nam loại khỏi danh sách cấm sử dụng trên cây chè” – ông Long nói.
Cần xây dựng một thương hiệu
Theo số liệu của Cục Trồng trọt (Bộ NN&PTNT), cả nước hiện đang có khoảng 140.000 ha diện tích trồng, năng suất khoảng bình quân khoảng 8 tấn/ha, sản lượng 900.000 tấn búp tươi, khối lượng chè khô khoảng 200.000 tấn, tổng giá trị bán hàng trong nước gần 4.000 tỷ đồng. Cả nước có khoảng 700 nhà máy chế biến chè tương đương 700.000 tấn chè khô mỗi năm.
Sản phẩm chè ngày càng đa dạng, từ chỗ chỉ có 2 loại chè chính là chè đen OTD (sản phẩm thu được qua quy trình chế biến theo phương pháp truyền thống) cho XK và chè xanh cho thị trường trong nước, tới nay đã có đầy đủ các loại chè phục vụ nhu cầu tiêu thụ đa dạng trên thế giới như: Chè đen OTD và CTC, chè sao lăn, chè OTD xanh, chè Ô long, Phổ Nhĩ, chè hương, chè thảo dược…
Ông Nguyễn Hữu Tài - Chủ tịch Vitas - cho biết: “Đây là một lợi thế lớn khi chè Việt xâm nhập vào thị trường chè thế giới, có thể bằng nhiều thương hiệu, nhiều thị trường khác nhau. Nhưng quan trọng vẫn phải xây dựng được một thương hiệu chung của chè Việt Nam - bảo đảm chất lượng, giá cả hợp lý”.
Để làm được điều này, cần có sự gắn bó mật thiết chặt chẽ giữa tất cả các khâu: Từ nông dân sản xuất - thu mua - nhà máy chế biến - DN kinh doanh.
“Các địa phương có diện tích trồng chè trên cả nước cần có sự điều chỉnh lại, quy hoạch cơ sở chế biến chè trên địa bàn, tiến hành phân vùng nguyên liệu cụ thể cho từng cơ sở chế biến, rà soát chặt, đảm bảo tiêu chuẩn cũng như hướng dẫn DN chế biến ký kết hợp đồng với nông dân trồng chè.
Bên cạnh đó, việc bảo hộ thương hiệu phải được ràng buộc về mặt pháp luật. Nếu không sẽ luôn dẫn tới tình trạng DN chân chính luôn chịu chi phối bởi tư thương, chất lượng chè bị lạm dụng, thị trường chè bị bóp méo. Muốn lấy lại thị trường thế giới phải bắt đầu từ những đơn hàng chè thật chất lượng” - Ông Tài nói.